Chào mừng quý vị đến với website trường THPT Nguyễn Khuyến
***CÁC THẦY CÔ MUỐN VIẾT BÀI HAY ĐƯA TÀI LIỆU LÊN WEBSITE CỦA TRƯỜNG HÃY ĐĂNG LÀM THÀNH VIÊN *** Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
Trường THPT Nguyễn Khuyến mười năm xây dựng và trưởng thành (kỳ 1)

I. Bối cảnh giai đoạn 1995 - 2000
Sau 1995 nền kinh tế toàn quốc có dấu hiệu phục hồi phát triển, chính nhờ ảnh hưởng của nó mà giáo dục hưng thịnh trờ lại.
Tại Vĩnh Bảo những mùa thi hầm hập sức nóng cả vè nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Người người đi thi, nhà nhà đi thi. Hình ảnh thường gắp ở các trường thi là những dòng người dòng xe ken đặc. Những ánh mắt lo âu của cha mẹ đưa con đến trường thi... và rồi biết bao ánh mắt thần thờ thất vọng... và những giọt nước mắt...
Quy mô học sinh THCS ở thời điểm này là khổng lồ liên tục giao động từ 4100 - 4500 học sinh/khoá. Nó mâu thuẫn với quy mô nhỏ, đội ngũ thiếu, CSVC nghèo của 4 trường THPT và 1 Trung tâm Giáo dục Thường xuyên của huyện.
Nhu cầu học học gia tăng đã tạo ra một sức ép lớn cho giáo dục Vĩnh Bảo.
Từ 1996 - 1998 theo chủ trương XHHDG trên toàn quốc hàng loạt trường NCL ra đời. Hải Phòng là một trong những thành phố tiên phong, Sơ GD&ĐT Hải Phòng đã xây dựng cả một đề tài về loại hình này mang mã số RX2001.
Có lẽ xuất phát từ việc giải phóng sức ép về nhu cầu học và xu thế phát triển trường NCL nên Huyện uỷ Vĩnh Bảo đã chính thức nêu vấn đề thành lập trường THPT Bán công Vĩnh Bảo từ cuối năm 1998.
Tháng 3 năm 1999 tôi và anh Nguyễn Hữu Kiên (Trưởng phòng Giáo dục huyện Vĩnh Bảo) được ông Nguyễn Khắc Quý (Trưởng ban Tuyên giáo Huyện uỷ Vĩnh Bảo) thông tin về ý tưởng này của Huyện uỷ Vĩnh Bảo trong một lần gặp gỡ.
II. Đề án thành lập trường.
Từ tháng 4/1999 ông Trương Quốc Vụ Phó Chủ tịch huyện Vĩnh Bảo được giao viết đề án thành lập trường. Hệ thống nhân sự dường như đã được bàn bạc từ trước, huyện đã lựa chọn Thầy giáo Nguyễn Văn Ước - giáo viên trường THPT Vĩnh Bảo người có năng lực dạy học tốt từng tu nghiệp tại đại học Lômôloxop (Nga) làm hiệu trưởng. Năm đó thầy Nguyễn Văn Ước 55 tuổi huyện hi vọng với với độ tuổi ấy và uy tín hiện có thầy Ước sẽ dương cao ngọn cờ bán công bán công trên mảnh đất Vĩnh Bảo mà việc trước mắt là hội tụ được đội ngũ thầy cô.
Thời điểm này tôi đang làm hiệu trưởng trường THCS Tam Đa. Theo tính toán khoá bầu cử năm 2000 anh Nguyễn Hữu Kiên sẽ được cơ cấu làm Phó Chủ tịch và tôi là ứng cử viên Trưởng phòng Giáo dục nặng kí nhất.
Vào khoảng 20 giờ một buổi tối tháng 5 năm 1999 tôi nhận được cú điện thoại của anh Kiên gọi về trao đổi là phải điện thoại ngay cho ông Trương Quốc Vụ. Tôi điện thoại và nhận được lời mời làm phó hiệu trưởng giúp việc cho thầy Ước. Ông Vụ yêu cầu trả lời ngay vì phải nhập tên vào trong đề án.
Tôi có một chút lưỡng lự, bởi trước đó trong một bữa tiệc thịt gấu tại nhà anh Hoàng Duy Đỉnh Chủ tịch Công đoàn ngành giáo dục - Người đã gắn bó suốt một thời học đại học. Anh Đỉnh báo cho tôi biết ý định của thầy Trần Xuân Đình muốn cho tôi về làm hiệu trưởng trường THPT Nguyễn Bỉnh Khiêm. Tại trường này ở thời điểm ấy thầy Lợi chuyển sang Hecman Maile còn cô Nhiễu tạm thời phụ trách trường.
Ai cũng khuyên tôi nên về Nguyễn Bỉnh Khiêm, tôi cũng biết về đó có quá nhiều thuận lợi nhưng tính tôi ưa thử thách không muốn ăn mày quá khứ khao khát tự lập nghiệp. Và lại số tôi hình như không được ban tặng. Ông tôi một nhà tử vi nổi tiếng có phán rằng: "Mày tuổi Tân Sửu sinh ngày 8 tháng 4 âm lịch nên là con trâu con của Phật". mệnh có chính tinh Thái âm chủ toạ bộ hoá khoa, Tam thai, Thiên đồng đi kèm chứng tỏ có đỗ đạt cao, có vị trí, thông minh hoạt bát nhưng hay phải thay đổi đấu tranh, hậu vận sáng sủa.
Bởi vậy tôi nhận lời. mấy ngày sau tôi được cầm quyển đề án thành lập trường THPT bán công Vĩnh Bảo do ông Vụ cho xem. Quyển đề án bìa màu hồng dai khoảng chục trang giấy A4 với chữ kí của ông Nguyễn Văn Thốn - Chủ tịch UBND huyện lúc bấy giờ.
Tôi không ngờ cái đề án mỏng manh ấy lại gắn chặt tôi vào với nó suốt một thập kỷ qua,một thập kỷ của vật lộn thăng trầm.
III. Quyết định và bắt tay khởi nghiệp.
Ngày 20/8 tôi đợc thông báo là thành phố đã chấp nhận đề án Ngời ta chỉ cho chúng tôi một ngôi trờng đã xụp đổ bỏ hoang 3 năm, đó là trờng THCS Nhân Hoà (sau đình Nhân Mục xã Nhân Hoà).
Hình ảnh tôi nhìn thấy đàu tiên là mặt ao trắng băng nớc tràn ngập sân trờng, những đống rơm rạ nổi lềnh bềnh mặt sân giữa mùa ma bão. Con đờng vào trờng đầy rãnh, nền ngôi nhà cấp 4 duy nhất có mái đùn lên những ụ mối và đống đùn chua to nh những chiếc bát ô tô...
Tôi và thầy Ước cùng im lặng không nói gì... Sau khi len lỏi kiểm tra hết một vòng trở về thầy Ước hình nh dao động hoặc thử lòng tôi: Hay mình trả quyết định? Thày bảo thế. Với tôi việc cải tạo ngôi trờng không khó nhng làm sao để học sinh khai giảng kịp thời vào 15/10 là một vấn đề?
Không ai tin có thể có trờng. Những ngời lạc quan nhất cũng lắc đầu. Trớc đây d luận vẫn cho rằng tôi sẽ là trởng phòng Giáo dục nên thầy Ước đã dự phòng chọn mời 2 ngời là giáo viên THPT Vĩnh Bảo làm phó hiệu trởng. Nhng đến lúc ấy cũng không ai theo nữa.
Chúng tôi đã bàn bạc và đợc UBND huyện hỗ trợ cải tạo các khu nhà cũ nát ấy. Công ti xây dựng nhỏ Hùng Vơng của huyện cũng vào cuộc và hỗ trợ tích cực. Chúng tôi có 2 việc cần làm là tuyển sinh và xây dựng CSVC. Ngày 21/8 tôi chở thầy Ước xuống làng Nhân Mục để thị sát thực tế.
Chiến dịch 17 ngày đêm bắt đầu. Từ ngày 25/8 ngời tôi căng hết cỡ để làm việc. Thầy Ước là giáo viên nên thời khoá biểu căng kín. Phần lớn công việc của tôi ở trờng đều giao cho hiệu phó chỉ đạo. Ban ngày bám công trờng và tuyển sinh, đêm cũng bám công trờng và tuyển sinh đến 21 giờ đêm vì phải dốc toàn sức cho kịp khai giảng.
Chúng tôi đặt trụ sở tuyển sinh tại Phòng Giáo dục huyện. Hai anh Bắc và Hanh tận tình hỗ trợ. Đêm đến anh em lại tập trung thu gom hồ sơ nhập vào danh sách. Có đêm anh Bắc ngã xe sứt hết mặt mũi nhng vẫn cặm cụi làm việc. Rồi những cuộc họp duyệt tuyển sinh kéo dài có hôm gần 1 giờ sáng tôi mới đèo thầy Ước về đến nhà.
Song song với công việc là mời giáo viên, việc huy động giáo viên không dễ. Tôi phải huy động hết bạn bè anh em ở các trờng cuối cùng cũng đợc hơn 40 giáo viên.
Khoảng 25/8 tôi đến Sở Giáo dục, thầy Ước và ông Trơng Quốc Vụ thông báo tin buồn: Chúng tôi chỉ đợc phép tuyển 200 học sinh trong khi con số là trên 500 em. Tôi phải thuyết phục mãi cuối cùng mới đợc giao thêm 200 học sinh nữa.
Khi duyệt tuyển sinh Phòng THPT cữ cời vì tất cả các con dấu đều của UBND huyện, Thời điểm này trường vẫn hca có con dấu.
Sở cũng gửi tặng 50 bộ bàn ghế và 1 bộ phát thanh giá 5 triệu. Tất cả bàn ghế trang bị còn lại đều phải mua chịu, đến nỗi cô Hằng kế toán tạm thời đã trở thành "con nợ" xuốt dọc dãy phố huyện.
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 9/9/1999 tôi đang ở trờng THCS Tam Đa thì nhận đợc một cú điện thoại của anh Dân - Phó văn phòng huyện thông báo: Đúng 14 giờ thông báo cho thầy Ước cùng tập trung tại huyện để nghe thông báo Quyết định thành lập trờng.
Ngày ấy tôi dành cho thầy Ước một phòng học để thày dạy thêm lớp ôn thi đại học. Có lẽ thầy cũng so sánh cách làm việc của tôi với các lãnh đạo khác nên tỏ ra rất quý mến tôi.
13 giờ tôi phóng xe máy xuống thôn Lễ Hợp để đón thầy cùng lên huyện. Tại phòng họp số 1 của huyện chỉ có lèo tèo vài ngời. Ông Đào Trung Đồng - Phó giám đốc Sở GD&ĐT đọc Quyết định thành lập trờng và Quyết định bổ nhiệm Hiệu trởng đồng thời giao trách nhiệm cho tôi hỗ trợ Hiệu trởng như một hiệu phó tạm thời chờ bổ nhiệm sau:
Thú thực tôi hơi ngỡ ngàng vì đề án đã ghi tôi là phó hiệu trởng, nhng không vì thế mà tôi buồn. Cái tôi chạnh lòng là sau khi cái quyết định kia được ban ra, một nhà trờng chỉ có một thầy hiệu trởng đã bớc sang tuổi 55 gầy yếu và tôi ngời cha rõ danh phận. Đằng sau không thầy, không trò, không trường, không tiền...
Ngày 15/9 trường mới tập trung học sinh. Mặt sân trường nhiều chỗ lầy lội tôi và 2 giáo viên khác phải đứng trong bùn để chỉ đạo đội hình và phổ biến kế hoạch học tập và lao động.
Ngày 18/9 chúng tôi bắt đầu họp hội đồng phiên thứ nhất. Có rất nhiều thầy giáo có thâm niên và uy tín đến dự thầy Tịch - NGƯT; thầy Hng (đã mất năm 2007) chúng tôi liên hoan bằng mấy gói bánh ngọt do cô Gái (vợ thầy Ước) mang tặng trờng. Không khí vừa vui vừa buồn vừa lo lắng. Tất cả hồi hộp chờ tiết dạy đầu tiên.
Và ngày 20/9 những tiết dạy đầu tiên của trường đã được thực hiện, tôi và thầy Ước đều nhận lớp và dạy với cơ số bằng 30% giáo viên.
Khi những hồi trống báo hết tiết học thứ nhất vang lên bầu không khí bị nén bỗng vỡ oà. Các thầy cô trên đường về văn phòng mắt ngời niềm vui sớng. Có lẽ lúc ấy mọi ngời mới tin đợc rằng trờng THPT Bán công Vĩnh Bảo có thể thành trường.
Suốt mấy tuần tiếp theo thầy trò vừa học vừa lao động tu bổ môi trờng vừa hội họp. Điều làm chúng tôi ấm lòng là tất cả CBGV đều đồng lòng chia sẻ, tôi nhớ nội dung các buổi họp đều xoay quanh dạy học sinh bán công như thế nào? vấn đề tiền công dạy, công làm hầu như không có tranh cãi gì?
Năm sáu chục CBGV chen chúc nhau trong cái nhà cấp 4 gần ba chục mét vuông vừa là hội đồng, là phòng chờ, phòng làm việc của cả cơ quan. Hiệu trởng uư tiên nhất cũng chỉ được ở ô buồng ngăn ra khoảng 6 m2. Sau này đến kì luyện thi học sinh giỏi thì căn buồng ấy là nơi các đội tuyển chia nhau luyện tập.
Tháng 1 năm 2000 tôi, thầy Hướng, cô Hoàn, cô Hằng mới có quyết định là giáo viên trờng và tôi có quyết định Phó hiệu trởng, Ông Đào Trung Đồng - Phó giám đốc Sở GD&ĐT về đọc quyết định. Chúng tôi bắt đầu thành lập Chi bộ đầu tiên tại phòng học số 1. Huyện uỷ, UBND về dự.
Không khí trang trọng nhng khách nhiều hơn chủ vì Chi bộ chỉ vèn vẹn có 4 ngời và thầy Ước đợc chỉ định làm bí thư đầu tiên đến năm 2004.
Ngay trong tháng 1 đoàn công tác của Công đoàn ngành GD&ĐT Hải Phòng do đồng chí Hoàng Duy Đỉnh CTCĐ làm trưởng đoàn về công bố Quyết định thành lập Công đoàn trờng, tôi đợc chỉ định làm Chủ tịch Công đoàn đầu tiên mãi đến năm 2004.
Đoàn trờng cũng đợc thành lập và thày Hướng là Bí th Đoàn trờng đầu tiên đến năm 2002.
Trận ra quân xuất ngoại đầu tiên của trờng là đội văn nghệ trong cuộc thi Tiếng hát chào thế kỉ mới. Hồi ấy cô Nguyệt - Giáo viên trờng THPT Vĩnh Bảo đã bỏ khá nhiều công sức cho đội văn nghệ. Tốp ca đã giành huy chơng vàng và tam ca giành huy chơng bạc.
Ngày 20 tết trờng mới phép của Sở GD&ĐT cho phép học sinh thi tuyển vào lớp 10 bị điểm liệt thi lại (ngày ấy điểm liệt là 2 diểm), có 24 học sinh dự thi. Hội đồng chấm đặt tại trờng và kết quả 24 học sinh đủ điểm vào 10 lần 2.
Tháng 4 năm 2000 trường tổ chức chuyến đi thi HSG đầu tiên chung với trường THPT Cộng Hiền. Học sinh toàn ban XH,tuy vậy lần đầu ấy đã có ngay 4 giải Văn,sử, địa ,công dân. Học sinh Nguyễn Thị Tuyến là học sinh đầu tiên do tôi dạy trực tiếp đạt giải nhì bộ môn văn.
Đến lúc ấy mọi vấn đề về quản lí mới tạm thời yên ổn.
Cái trăn trở của thầy Ước là một ngôi trờng mới, còn tôi khát vọng hơn thế tôi ham vọng một khu trờng quy mô bề thể hiện đại. Tâm sự ngầy ấy của tôi không mấy ai chú ý nhiều ngời gọi là khát vọng của "anh chủ nhiệm".
Thực ra từ tháng 9 năm 1999 khi còn đang là hiệu trởng trờng THCS Tam Đa tôi đã gặp anh Hoàng Doãn Bang lúc ấy đang là chủ thầu xây dựng công trình Nhà Hội trờng xã Tam Đa để bàn về cách làm dự án. Năm 2000, vào khoảng tháng 4 tôi trình bày kế hoạch với thầy Ước. Hai thầy trò đệ trình huyện xin cấp đất.
Đầu tiên huyện có ý định cấp khu đất cạnh chân cầu Mục (Xí nghiệp Đỉnh Vàng) bây giờ nhng diện tích quá hẹp chỉ khoảng 3000 m2 và lại ông Thốn - Chủ tịch UBND huyện có quan điểm cần xây dựng các khu công nghiệp ra mặt lộ hơn nữa đó là đờng cao tốc không thuận cho xây trờng.
Huyện gợi ý chúng tôi tiếp thu trung tâm LLCT tôi đến khaots thực tế và thấy khó chấp nhận vì tất cả chỉ đợc 2000 m2 và lại tôi biết vốn là một bãi tha ma. Thầy Ước có ý định xin mảnh đất 1 ha ngây đầu cầu giao thông, UBND xã Nhân Hoà và Tam Đa đã gợi ý cho 2 ha để mở trường tại xã.
Trong Hội nghị Công đoàn cụm Vĩnh Bảo tại trờng THPT Cộng Hiền, tôi với t cách Chủ tịch Công đoàn nhà trờng tham dự đã báo cáo đề xuất với lãnh đạo Sở. Bà Phạm Thị Cơng - Phó giám đốc lúc ấy đã khẳng định: Nếu trờng THPT bán công Vĩnh Bảo xây tại thị trấn thì sẽ không có một viên gạch nào đợc duyệt. Quan điểm của Sở Giáo dục lúc ấy muốn trờng xây tại khu vực Cúc Phố (ngã 3 đờng 17B đi Nam Am).
Sau khi trao đổi với lãnh đạo ngành Sở Kế hoạch - Đầu t; Sở Xây dựng Tôi bộc lộ quan điểm của mình là không xây trờng ở Cúc Phố theo khảo sát ban đầu vì những lí do sau:
1. Đó là khu vực nghĩa địa nên khó khăn cho xây dựng trờng quy mô lớn vì kết cấu đại tầng và môi sinh khi khai thác nớc ngầm.
2. Vùng đát quy hoạch vốn là khu vực chứa thuốc trừ sâu của công ti Phân bón thuốc trừ sâu bị phá sản sẽ có nhiều độc tố.
3. Cúc Phố là trung tâm đại lí huyện nhng không phải là nơi tập trung đông dân c. Học sinh ngoài công lập là học sinh tuyển lại nên địa bàn trải rộng không thể bắt tất cả cùng đi 15 km để đến trờng.
Thời điểm này,vấn đề bầu cử HĐND huyện diễn ra phức tạp nên không ai chú ý. Sau này đội ngũ lãnh đạo UBND huyện mới bầu cũng đồng cũng đồng nhất ý kiến này. Ông Đào Trọng Giao đã thành lập Ban quản lý dự án của huyện và gọi riêng tôi và anh Nguyễn Trọng Nhỡng (lúc ấy làm Trởng phòng Địa chính) lên trao đổi. Quan điểm của tôi là cần diện tích và gần trung tâm huyện. nếu cần thiết xin huyện cho 1 khu đát để mở phân hiệu dựng trờng cho học sinh 8 xã khu 1.
Anh Nhưỡng đã báo cáo có một khu đát của xí nghiệp giống cây trồng có thể xin vì xí nghiệp đang trong giai đoạn khủng khoảng giải thể. khu đất này huyện dự định làm bãi rác của thị trấn.
Giữa một ngày đại hàn giá rét năm 2000 nhà trường và phòng địa chính huyện đã tiến hành đo đất cắm trường. Đó là cánh đồng Quan thuộc khu vực Liễn Thâm (Cách trung tâm thị trấn 2km về phía Bắc). Trồi lên thụt xuống trong những vũng bùn, những đáy ao chưa khô kiệt cuối cùng chúng tôi cũng cắm xong mốc diện tích xây trường. Ban đầu chiều dài của đất kéo dài 160 mét giáp quốc lộ 17A. Chiều sâu kéo dài 100 mét cách bờ sông Chanh Dương 17 mét. Trong đó 60 mét tính từ chân cầu Liễn Thâm là khoảng lưu không thuộc sở hữu của trường. Đến tháng 5 năm 2001 huyện triển khai nhà máy nước tại khu vực lưu không này nên một lần nữa lại phải dẫm bùn đo đạc lại. Diện tích co lại như bây giờ.
Trong giai đoạn này chúng tôi đã tích cực triển khai dự án: xin phê duyệt kế hoạch, làm thiết kế dự toán, làm đấu thầu ... có điều là QĐ của UBND cho trường THPT bán công Vĩnh bảo làm chủ đầu tư.Tôi nhớ chủ tịch huyện liên tục hối thúc chúng tôi xin các quyết định phê duyệt kế hoạch, thiết kế,dự toán... và ông ấn định vào ngày chủ nhật tháng 4 năm 2001 phải công bố. (da dang phan mau do)
Chúng tôi mệt mỏi chờ đợi và xin bằng được chữ ký của Bà Sinh PCT vào chiều thứ 7. Nằn nì mãi vì hết giờ hành chính mới xin được đóng dấu. Ngay trong chiều muộn về Vĩnh Bảo,đến huyện thì đã 20h. Sáng hôm sau, khi đọc QĐ chủ tịch huyện mới ngãngửa ra vì chủ đầu tư không phải là UBND,lập tức ông ra lệnh giải thể Ban quản lý dự án. và trường tôi là trường đầu tiên tại Vĩnh bảo đứng ra làm chủ đầu tư.
Ngày 19 tháng 6 năm 2001 chúng tôi mở thầu. Do không có kinh nghiệm nên lần mở thầu ấy thất bại. Mất mấy tháng ròng chạy chọt, nhờ cậy hết sức vất vả. Ngày ấy con đường 10 vẫn là đường đá đầy rẫy những ổ gà và hai chiếc phà án ngữ. Tôi và anh Bang có những đêm 21 giờ mới đi xe máy từ thành phố về Vĩnh Bảo đói quá vào quán phở nhưng nhà hàng đã hết hàng đành phải xin chủ nhà hai bát cơm rang ăn với dưa muối. Có những buổi hai anh em phải thuê hết 400 nghìn tiền taxi đi trong mưa lũ để tìm gặp các quan chức xin được đấu thầu lại. Có hôm chỉ cần một chữ kí của lãnh đạo thành phố chúng tôi phải đi xe máy lên tận Hà Nội ... Bản thân tôi phải đến mượn và học cấp tốc hàng đống giáo trình do anh Chính - Trưởng phòng KH&ĐT huyện cung cấp còn cô Hằng - kế toán nhà trường phải tự nghiên cứu kiểm soát toàn bộ dự toán của dự án 4,1 tỷ đồng.
Mệt mỏi rã rời nhưng kiên quyết vì sự cần thiết của ngôi trường. Chúng tôi đã bỏ qua tất cả nỗi nhọc nhằn đôi lúc đau đớn về tinh thần để làm việc. Tôi nhớ ngày ấy tôi mua một chiếc xe Dream còn mới nguyên nhưng đến lúc này khi sửa xe nhìn hộp số mới giật mình tôi đã đi 5 vạn 8 nghìn km.
Thế rồi cuộc đấu thầu lại cũng được tiến hành. Ngày 16 tháng 9 năm 2001 tại phòng truyền thống của Sở GS&ĐT cuộc đấu thầu diễn ra suôn sẻ.
Sau khi đền bù Xí nghiệp giống cây trồng vĩnh bảo 65 triệu đồng chúng tôi bắt đầu giải phóng mặt bằng.
Ngày 20 tháng 9, tinh mơ chúng tôi đến khu xây dựng,Cô Hằng ,ông Đông phụ giúp thày cúng là ông Giới thực hiện nghi thức tâm linh.đèn nến khói nhang nghi ngút, chiêng trống tùng keng ... Chúng tôi vãi cháo cho các cô hồn và công bố quyền sở hữu khu đất mới của mình. Thực sự tôi không mấy hào hứng,nhưng thày ước và cô hằng có vẻ tín lắm ,vì ngay sau khi trời tờ mờ sáng đã có vài chục thiếu niên đi tập thể dục thấy lạ ùa vào xem. Thày ước bảo : điềm lành, vì vừa cúng xong đã có trẻ đến ngay và toàn là tráng đinh.
Đó là hình ảnh cuối cùng tôi ghi nhận được về khung cảnh tự nhiên nơi sau này trường tôi toạ lạc.
Ngày 24 tháng 9 năm 2001 ,chúng tôi làm lễ khởi công công trình tại nhà Văn hoá NBK sau đó tiến hành động thổ tại khu vực xây dựng. Đồng chí PCT nguyễn đức Mai tham gia động thổ cùng. Và sau đó là một chuỗi ngày bận rộn thi công. Theo quan điểm của thày ước chỉ cố gắng xây một ngôi nhà trung tâm sau đó phát động học sinh trồng tre vây và lao động san lấp dần. Có thể Thày chưa bao giờ làm chủ một công trình lớn đến vậy trong khi ngân sách mới cho 5 trăm triệu đồng chưa đủ xây 1 ngôi nhà nên lo lắng nghĩ vậy. Trên thực tế với tư cách là chỉ huy trực tiếp tôi bàn rất kỹ với Bang triển khai dự án đúng thiết kế. Những ngày đầu tiên cán bộ nhân viên công trường phải nằm trên đống cọc tre căng vải nhựa .Sau 1 tháng chúng tôi dựng tạm 01 căn lán chính giữa công trường.
Không có vốn,chúng tôi buộc phải huy động tới anh em giúp đỡ.Nhiều bạn bè giúp từng phần việc vô tư sẵn sàng cho chịu. Hàng mấy nghìn mét khối cát đổ xuống,hàng trăm vạn gạch,gỗ đá ... ban đầu đều huy động từ nguồn bè bạn làm ăn cả. Chỉ có một chút tiền dành cho mua ximăng và sắt thép mà thôi.
Tôi nhớ suốt gần 1 năm ròng anh em chỉ ăn cơm với cá khô. Có chế biến cũng chỉ là rán hoặc hấp cơm . Rau xanh tự túc ngay tại các khu đất trống. Anh em công nhân tự nuôi được mấy con gà tự kỳ hẹn với nhau mỗi tháng chỉ được 1 lần ăn thịt. hầu hết các bữa vui cũng chỉ là đĩa lạc và mấy bìa đậu. Rượu suông và những tranh luận về biện pháp thi công tháo gỡ khó khăn dài suốt 1 năm trời...
Dần dần ngôi trường cũng hình thành rõ nét dần.
Cũng thời điểm này theo yêu cầu của huyện chúng tôi phải mở phân hiệu tại khu vực xã Tam Cường để thu hút học sinh 8 xã khu 1 vì các em đi học quá xa. Hội nghị của trường hầu hết không đồng ý hoặc im lặng vì chỉ một vấn đề lấy đâu ra tiền xây dựng cũng làm đau đầu rồi huống hồ là trường chỉ có hơn 3 chục người vừa biên chế vừa hợp đồng. Tuy vậy tôi vẫn dám đứng ra nhận nhiệm vụ này. Nhờ sự giúp đỡ rất hiệu quả của ông Đào Trọng Giao- Chủ tịch UBND huyện chúng tôi tiếp cận được với Sở Công nghiệp. bằng những cuộc ngoại giao, tham mưu Sở CN đồng ý cho chúng tôi trung tu khu nhà xưởng của họ để mở trường.
Đó là khu đất 8000m2 vốn là cơ sở của xí nghiệp cói Vĩnh Bảo đang ở giai đoạn cuối cùng của phá sản. Chúng tôi đã tham mưu với SGD và cùng đoàn cán bộ của phòng Tài vụ - CSVC do ông đào Trung Đồng dẫn đầu đến thị sát. được sự hậu thuẫn của Sở GD chúng tôi quyết tâm làm phân hiệu.
Hình ảnh tôi nhìn thấy là những ngôi nhà xưởng to quá khổ mái sáng lạng vì thời gian phần lớn đã xập, những bức tường bong vữa loang nổ và những bộ cánh cửa mối xông hoặc xám đen và mốc. Tất cả bị bọc trong một rừng chuối hột dày đặc không khí ẩm thấp giống y hệt một ngôi nhà hoang hoá tàn tạ.
Lại tiếp tục tập trung tu sửa biến đống hoang phế ấy thành ngôi trường sau 2 tháng đường nét của ngôi trường được hình thành. Chúng tôi chuyển toàn bộ học sinh của 8 xã khu 1 về đó học tập. Thầy trò suốt 1 năm tiếp tục sửa sang tròng cây gắn vá mua sắm thiết bị mãi đến tháng 6 năm 2002 khu phân hiệu mới gọn gàng.
Chúng tôi đã được Sở Công nghiệp hỗ trợ xin vốn mua 358 triệu đồng phần còn lại thu từ tiền xây dựng và xin hỗ trợ của Sở GD&ĐT trên 300 triệu đồng. Đến năm học 2002-2003 khu phân hiệu đã tạm đủ các điều kiện tối thiểu cho 500 học sinh học tập.
Ngày 30 tháng 8 năm 2002 sau hơn 3 năm thành lập trường khu trung tâm của trường được khánh thành trong niềm hoan hỉ của thầy trò và bè bạn. Ngôi trường mới toạ lạc trên một mảnh đất rộng 1.4 ha các phòng học, khu hiệu bộ, hội trường, xân chơi bãi tập... đều rộng rãi đẹp thiết kế qua mô hiện đại. Đây cũng là năm đỉnh cao của phát triển quy mô nhà trường.
Đến năm 2002 quy mô nhà trường đã tăng lên 1320 học sinh. Tháng 5 năm 2002 là mùa thi đầu tiên của trường. Chúng tôi phải thuê trường cấp 1 và 2 của Xã Tam Đa để thi. Năm ấy chúng tôi đạt 86%. Thời ấy ai cũng đánh giá là cao nhưng tôi và thày Ước cảm thấy rất đau xót vì có tới 49 học sinh trượt tại HĐT Vĩnh Bảo giữa một thời kỳ thi cử chưa phải là căng thẳng.
Chúng tôi chợt hiểu sự ra đời của trường Bán công không làm vui lòng các BGH của các trường công lập vì thời điểm trước đó trong trường công vẫn có hệ bán công. Nguồn học sinh này là chỗ để tăng thu nhập cho nhà trường và nay thì bị mất. Việc huy động giáo viên của các trường công lập sang dạy thỉnh giảng bắt đầu trở lên khó khăn. Nhiều trường công lập thay đổi thời khoá biểu liên tục nhằm hạn chế giáo viên dạy cho trường Bán công do vậy nhiều tiết học bị phá vỡ. Mặt khác do quy mô phát triển công tác chủ nhiệm lớp trở thành nỗi nhọc nhằn của giáo viên. Nhiều đồng chí phải chủ nhiệm 2 lớp một lúc trong tình trạng học sinh đợc tuyển là học sinh được loại ra từ cuộc thi vào trường công lập nên chất lượng học lực và hạnh kiểm đều yếu.
Đây là thời điểm Chi bộ BGH nhà trường đã đưa ra một quyết sách đúng đắn: Giảm tải giáo viên thỉnh giảng thực hiện tăng cường giáo viên cơ hữu và hợp đồng. Năm học 2003-2004 giáo viên nhà trường đã có 54 đồng chí đảm nhận 80% công việc của nhà trường, tạm thời giải toả được sức ép nhân lực từ các trường công lập.
Tháng 1 năm 2004 trường bổ nhiệm thêm 1 hiệu phó phụ trách khu vực phân hiệu với đề án "Quản lí hoạt động ngoài giờ lên lớp" đó là thầy Tống Phú Sến tổ trưởng tổ Xã hội trường THPT Vĩnh Bảo. Tháng 8 năm 2004 thầy Nguyễn Văn Ước nghỉ hưu mọi công việc không có xáo trộn gì
Năm học 2004-2005 quy mô tăng vọt lên 2300 học sinh thương hiệu của trường bắt đầu ổn định. Năm học ấy trường được bằng khen của Bộ GD&ĐT và được xếp thứ 3 khối trường ngoài công lập. Mùa thi năm đó trường đạt kết quả cao nhất cho đến thời điểm này 99,64%, năm học 2006-2007 nhà trường mở ra mối liên thông đào tạo và tuyển sinh với các trường CĐ và THCN trên địa bàn thành phố và các tỉnh lân cận. Chính vì thế năm học này tỉ lệ tốt nghiệp của trường vẫn đạt cao đặc biệt tỉ lệ vào chuyên nghiệp đã đạt tới đỉnh mơ ước của các trường ngoài công lập: 33,3% học sinh đỗ CĐ-ĐH, 100% số học sinh tốt nghiệp được vào THCN.
Bước sang năm học 2006-2007 nhà trường phải đối mặt với những thách thức cực kì căng go đó là chính sách tăng lương giảm giờ làm của nhà nước. Để chi trả lương cho cán bộ công chức nhà trường buộc phải nâng mức học phí làm cho học sinh và cha mẹ học sinh vùng nông thôn nghèo bắt đầu hoang mang giao động. Sự xuất hiện của học sinh bỏ học ngày càng nhiều. Mặt khác đây chính là thời điểm Bộ GD&ĐT tiến hành cuộc chiến "2 không" chính nội dung của cuộc vận động này cũng góp phần làm nhút ý chí học tập của bộ phận học sinh lười học kéo theo tâm lí hoang mang của cha mẹ họ. Đội ngũ quản lí và giáo viên nhà trường trên thực tế đã cố tìm giải pháp tháo gỡ nhưng do quán tính dạy dạy theo nếp cũ nên năm học này tỉ lệ tốt nghiệp của học sinh nhà trường giảm xuống còn 92% trong đó lần 1 là 57%. Bù lại do dạy thật học thật nên số học sinh học tập nghiêm túc lại đỗ chuyên nghiệp khá cao 35%. Chi bô BGH nhà trường đã họp kiểm điểm nghiêm túc nhận định tình hình và rút những kết luận sau đây: Tình hình đã có những biến đổi khả năng duy trì qua mô là không còn do sức ép của nguồn thu kinh tế giữa một vùng nông thôn nghèo. Cuộc chiến "2 không" là một thách thức nó buộc thầy phải dạy thật và trò phải học thật. Trường đã tổ chức một cuộc chỉnh huấn thực sự về chuyên môn. Vấn đề dạy ôn tập theo phương pháp mới trực tiếp do hiệu trưởng hướng dẫn và chỉ đạo. Để khắc phục tình trạng thâm hụt kinh phí không có khả năng bù đáp tại vùng nông thôn nghèo Chi bộ BGH đã giao cho hiệu trưởng nhà trường nghiên cứu xây dựng đề án chuyển đổi loại hình trường.
Năm học 2007-2008, từ tháng 8 năm 2007 trường đã mở hội nghị dân chủ bàn bạc một cách cụ thể về các chương trình mục tiêu của năm học mới. Ba vấn đề cơ bản được xác định: Tăng trưởng chất lượng đào tạo mà trước hết là đảm bảo tỉ lệ tốt nghiệp cao; Bảo vệ thành công đề án chuyển đổi loại hình trường; Tăng trưởng CSVC thiết bị trường học.
Cũng ngay từ tháng 8 chuyên đề đổi mới phương pháp được ứng dụng người dạy, người học đã cảm nhận được giá trị của nó. Bản chất của phương pháp này là: Tinh giảm tối đa kiến thức đảm bảo cơ bản về nội dung, tăng cường luyện tập của học sinh bằng hình thức công bố trước nội dung bài dạy bài ôn tập. Kì thi tốt nghiệp THPT năm 2007-2008 chất lượng đã tăng vọt 30% so với năm học cũ tức là 87%. Đây cũng là năm được mùa chuyên nghiệp. Có trên 300 học sinh vào CĐ-ĐH chiếm trên 50% tỉ lệ học sinh khối 12.
Trường chủ động kí các hợp đồng XDCB quan hệ mạnh bằng tham mưu với các cơ quan tài chính của Sở Tài chính Vật giá, Sở GD&ĐT. Ngày 20 tháng 9 năm 2007 trường khởi công đồng loạt các dự án xây mới nhà 3 tầng, cải tạo nhà hiệu bộ, làm lại sân... trị giá 4,5 tỉ đồng. Chính nhờ hoạt động khẩn trương này mà trường đã tránh được cơn bão trượt giá sau tết âm lịch 2008.
Đến tháng 9 năm 2008 tất cả các hạng mục đã gần như hoàn tất và khu trung tâm của nhà trường làm hài lòng tất cả thầy trò và khách đến công tác về quy mô, tính thẩm mĩ, tính tiện dụng.
IV-Giai đoạn khủng hoảng và đề án chuyển đổi sang công lập
Từ năm học 2005 -2006 do biến động của thị trường, do cơ chế chớnh sỏch thay đổi và đo những yờu cầu cao hơn trong dạy và học nguồn kinh phớ tự chủ của cỏc trường khụng đủ đỏp ứng 50% yờu cầu cần cú trong khi hỗ trợ của nhà nước mỗi năm chỉ dao động từ 90 - 120 triệu đồng cho lương và chi khỏc, 40% hỗ trợ cho XDCB và thiết bị bằng 20% so với trường cụng lập cựng cấp. Tỷ lệ đầu tư cho một học sinh tại trường THPT bỏn cụng (gồm cả 2 nguồn tự chủ và ngõn sỏch) chỉ gần bằng 50% cho một học sinh cụng lập mặc dự cỏc mục tiờu và nội dung giỏo dục vẫn phải thực hiện như nhau. Điều đỏng quan tõm là 3/4 trường nằm ở vựng nụng thụn nghốo xa trung tõm thành phố khả năng huy động nguồn lực tài chớnh rất yếu. Chớnh vỡ vậy từ năm 2005 -2007 tại 3 trường này đó cú trờn 500 học sinh bỏ học, tỷ lệ tuyển đầu vào mỗi năm học mất 30-40% và cú trờn 50 thày cụ giỏo bỏ hợp đồng trong đú cú 2 thày cụ diện biờn chế bỏ nghề.
Đề án chuyển đổi loại hình trường được xây dựng bảo vệ trong những điều kiện thật gian khó. Lần bảo vệ thứ nhất hình như không ai hiểu gì. Các cán bộ lãnh đạo huyện còn bộc lộ thái độ không ửng hộ, có lẽ người ta cho rằng mất một cơ sở ngoài công lập là mất đi thành tích của họ. Chỉ có những người thầy đối mặt với thực tế mới hiểu được học sinh. Các em nghèo quá nhiều lớp khi giáo viên công bố thu tiền đã có những học sinh khóc nức nở. Các em muốn học nhưng nhà nghèo...
Tháng 7 năm 2008 trường thực hiện cuộc hành hương về đất Tổ. Anh em đều thành tâm xin một ít đát tại đền Hùng về làm đất thiêng và xin được phù trợ chuyển sang công lập để giữ trường. Sau lễ tại đền Hạ, đền Trung, đền Thượng mấy lần mới xin được đất ,nước và đá mang về. Sau đó 1 ngày vào đúng 14 âm lịch tháng 6 ta đất Tổ được lập bàn thờ, hương cháy chưa đầy 10 phút thì tôi nhận được điện từ UBND thành phố báo : đồng chí PCT thành phố đã có kết luận nhất trí cho chuyển đổi 3 trường BC ngoại thành sang công lập . Tin đó làm mọi người bàng hoàng. Nói bàng hoàng là vì chúng tôI đã làm tất cả trừ phần tâm linh ! Phải chăng nhờ có yếu tố này mà đức thánh tổ ngầm giúp. Chúng tôI lập tức cho yểm đất thiêng tại trường. Vị trí sát tường rào sân sau có 4 hố cách đều từ nhà máy nước đến giáp trường dạy nghề. 1 hố tại sân khấu trung tâm, 1hố tại ngã tư đường nội bộ ngay cổng vào, 1 hố tại chân tượng đài Nguyễn Khuyến và 4 hố tại các trụ cổng.
Để tồn tại nhà trường, để giúp đỡ cộng đồng đồng chí hiệu trưởng đã một mình một ngựa đi tham vấn trình bày xin trợ giúp khắp đó đây. Những hội nghị tại Sở Nội vụ tháng 8 năm 2007, Tại UBND thành phố tháng 3 năm 2008 và biết bao văn bản gưỉ Bộ GD&ĐT, gửi Thành uỷ, HĐND thành phố, rồi báo chí vào cuộc... suốt 2 năm trời nhọc nhằn kiên định ngày 12 tháng 8 năm 2008 đề án ấy mới được chấp nhận bằng thông báo của UBND thành phố.
Trong 2 tháng tiếp theo,tôi được anh em 4 trường và bạn bè ở SGD phong cho cái chức danh "Giám đốc bán công" để thực hiện đốc công thúc đẩy cái thông báo này thành quyết định. đây là giai đoạn cơ cực hơn bao giờ hết. Có tuần phải làm tới 6 ngày ở thành phố. Có ngày chầu chực mãi không làm việc được vừa từ Hải Phòng về lại nhận được điện ra gấp bàn việc. Nhiều đêm tận 23 h mới về đến nhà.Những cuộc tranh luận với Sở tài chính khiến cho gần hết mọi người đều nao lòng. Thậm chí có hôm anh Hoàng Văn Kể phó chủ tịch UBND thành phố còn khuyên tôi " Em phải bình tĩnh,làm theo lộ trình,trong điều kiện này Tài chính nói thế cũng có lý". Hàng tuần liền các Hiệu trưởng đều chán nản,nhưng tôi vẫn kiên quyết con đường. Tôi đã thông qua anh em thân thiết và các đồng chí lãnh đạo các sở giúp đỡ. Các cô Tâm (PGĐ sở KH)Hồng (PGĐ Sở NV) các anh Dỗ Thế Hùng (GĐ sở GD) Vũ Văn Trà (PGĐ Sở GD) và Nguyễn Kim Pha (Chuyên viên vă phòng UBND thư ký riêng của anh Kể) đã tham góp chỉ đạo và hướng dẫn nhiều ý kiến. Lại thu gom đề án,biên soạn và chuẩn bị.... Ngày 10/10/2008 tại UBND thành phố vào lúc 7h30 hội nghị bắt đầu. Sau những tranh luận gay gắt và các Sở thay nhau phê bình Sở GD&ĐT. đặc biệt Sở tài chính gần như phản bác việc công lập hoá trở lại 4 trường và yêu cầu Sở còn phải tăng thêm số trườngNCL nữa. Tôi với tư cách trưởng nhóm bán công phát biểu. Tôi nhớ mình đã kể về cuộc họp phụ huynh, có một đại tá nghỉ hưu nói "Các thày có quyền thu và chi,nhưng hãy nhớ giúp chúng tôi rằng : Mỗi cháu học sinh ở quê ta chỉ có 1 sào ruộng. Mỗi ngày chúng chỉ có 1 mét vuông đất để sống,nó ăn,nó học,nó chữa bệnh... đều ở đó". Tôi còn nói thực trạng rằng trường tôi 2 tháng 7&8 không có lương,phải khất tiền may đồng phục học sinh với công ty may An Tuấn để chi lương... về sự bất công bằng,về những sụ thật khác của đời sống nông thôn,bất ổn đội ngũ... Hội nghị quả thật đã yên lặng. í kiến của Thành uỷ và HĐND sau đó đã ủng hộ xoay ngược ý của Sở tài Chính. Kết luận của PCT Hoàng Văn Kể là "Việc chuyển đổi các trường THPTBC trong hoàn cảnh hiện thời là đương nhiên".Hội nghị kết thúc nhưng mỗi người một tâm trạng. Kể cả 4 trường cũng chẳng mấy vui.
Đúng hai mưoi ngày sau các trường BC sát cánh làm cuộc vận động hành lang,tôi trực tiếp thảo nhiều tờ trình cho sở, bàn soạn trực tiếp với anh Thắng TP TCBM của Sở NV, văn bản được đưa sang UBND,lại phải thay đổi lại theo ý UBND... đến đúng 4h30 ngày 30 tháng 10 năm 2008,quyết định mới chính thức được ký. Pha điện từ UBND về cho tôi lúc ấy đã 17 h. Ngày hôm sau chúng tôi ra sớm và ăn sáng tại HP vào làm việc với văn thư xin số đẹp đó là số QĐ1848-UBND. Theo số này là 4 trường cùng phát. Nhưng thực ra theo cách tính tử vi của tôi thì nó ăn vào con số 3 : SINH- LÃO - MỆNH. Vẫn là chữ mệnh. Tôi nói với các bạn : Sinh bán công, bán công già thì thay mệnh khác. Âu nó cũng là mệnh trời vậy.Như một hiện thực chứng minh năm học 2008-2009 học sinh lại lũ lượt đăng kí đến trường xin nhập học, có tới gần 900 hồ sơ vượt chỉ tiêu 200 hồ sơ. Tính công bằng trong giáo dục được thực hiện, những đứa trẻ nghèo lại được đến trường. Người dân huyện ngộ ra một điều cái thương hiệu của trường THPT bán công xưa kia và THPT Nguyễn Khuyến ngày nay thực tế đã được xác lập nhưng sự trùi sụt của nhà trường những năm 2006-2007 là do cơ chế tạo cho nó một gánh nặng không thể vượt qua.
Tháng 8 năm 2008 nhà trường vẫn tự tin đàng hoàng bước lên sân khấu nhận bằng khen của Bộ giáo dục và Đào tạo trường vẫn được Sở GD&ĐT, Hội nghị các hiệu trưởng THPT xếp vị trí thứ 3 khối ngoài công lập.
Có lẽ sau khi có quyết định chính thức thương hiệu THPT Nguyễn Khuyến sẽ còn vang danh và bay xa hơn nữa.
V- Ngày 30/10/2008 lịch sử và những nan giải mới.
Đúng 16h 30 phút ngày 30 tháng 10 năm 2008 (Mồng 2 âm lịch) tôI nhận được điện của Kim Pha – Thư ký riêng của ông Hoàng Văn Kể ,phó chủ tịch UBND thành phố thông báo là sếp đã ký quyết định. Pha hỏi theo ý anh lấy ngày nào cho đẹp, tôI nói cứ để nguyên lịch sử như vậy vả lại ngày ký là mồng 2 ta nên vẫn đẹp. Chúng tôI chầu chực ở HP cả ngày hôm sau nhưng không lấy được quyết định, Pha chỉ làm yên lòng chúng tôI bằng cách gọi cho văn thư chọn số quyết định đẹp. Đó là số 1848 ! theo cách tính tử vi hoá ra vẫn là số 3 (SINH – LãO –MệNH) thì ra mệnh nó là thế. đến đấy cũng là tuyệt lộ và phảI chuyển sang hướng khác.
Như vậy 4 trườngTHPT bỏn cụng sang THPT cũn lại 03 trường do cú những đặc điểm riờng nờn chưa chuyển đổi bao gồm (Bộ phận bỏn cụng thuộc THPT Nội trỳ Đồ Sơn, THPT bỏn cụng Phan Đăng Lưu thuộc ĐHSP Hải Phũng và THPT Heccman Gmeiner thuộc Sở TBXH ). Tuy nhiờn khi chuyển đổi sang THPT cỏc trường vẫn gặp những trở ngại về cơ chế. Trờn thực tế nú đó trở thành thỏch thức mà tự thõn cỏc trường khụng thể giải quyết nổi.
1.Mục tiêu chuyển đổi các trường.
Từ năm 2006, BGH cỏc trường THPT bán công đó tích cực tham mưu với ngành GD&ĐT cựng cỏc sở chức năng và UBND thành phố về đề nghị chuyển đổi cỏc trường để thực hiện Luật GD và giải quyết khủng hoảng .
Ngày 13 tháng 8 năm 2008 Thành uỷ Hải phũng đó công văn số 875 -TU chỉ đạo việc thực hiện chuyển đổi cảctường THPT bán công sang THPT công lập thực hiện việc chống học sinh bỏ học và giáo viên bỏ dạy.Ngày 10/10/2008 UBND thành phố đã kết luận chuyển các trường THPT bán công sang loại hình THPT công lập và 20 ngày sau ngày 30 thỏng 10 năm 2008 cỏc trường đó cú quyết định bằng văn bản chính thức.
2. Cơ chế áp dụng cho các trường sau quyết định chuyển đổi : Tháo và gỡ nửa chừng!
Theo quyết định số 1848 của UBND thành phố cỏc trường khi chuyển sang loại hỡnh THPT cụng lập thực hiện theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP. Theo đú cỏc trường này là trường THPT cụng lập như cỏc trường thuộc nhúm b trong Nghị định.Nh
ư vậy vấn đề đặt ra ở chỗ, thành phố chỉ cần ỏp dụng cơ chế cụng lập cho tất cả cỏc trường vừa chuyển đổi và cỏc trường này cú trỏch nhiệm thực hiện nhiệm vụ chớnh trị. Nhưng sự thật lại có sự khác biệt, các trường không được thụ hưởng quyền lợi như vậy. Thực tế kinh phí đào tạo được cấp cho 1 học sinh lại chỉ bằng 60% một học sinh công lập và biên chế cán bộ giáo viên chỉ là 60% so với biên chế công lập. Do đó bài tóan cứu nguy cho các trường THPT bán công vẫn bế tắc và lệch hẳn so với mục tiêu chuyển đổi đó đặt ra ở trường. Khi chỉ có 50% kinh phí đương nhiên học sinh các trường sẽ vẫn phải thu cao hơn mức thu học sinh CL thì mới bù đắp được 40% kinh phí thiếu hụt. Hơn nữa các trường THPT này hiện tai vẫn còn 20% học sinh hộ ngheo và diện học sinh chính sách thuộc diện miễn giảm học phí thì lấy kinh phí bù đắp từ nguồn nào,vẫn cũn chưa xác định. Trong khi mức chi phớ của học sinh THPT tại HP năm 2008-2009 là 2,2 triệu/hs/năm thì học sinh các trường vừa chuyển đổi chỉ được 1,2 triệu đồng/hs/năm và rừ ràng mỗi học sinh phải nộp 1 triệu đồng học phí mới bù đủ. Mức thu này cũn cao hơn lúc chưa chuyển đổi. Những năm học trước các trường mới thu mức 810 nghìn đồng/hs/năm học thỡ các học sinh đó bỏ học ồ ạt ; Mặt khác tự tạo ra một nghịch cảnh là hai trường công lập cùng một vùng miền lại có hai chế độ khác nhau liệu có khuyến khích được học sinh đến trường trong điều kiện kinh tế cha mẹ học sinh ở vựng miền hết sức khó khăn.Trần Nhật Giáp @ 14:07 09/01/2010
Số lượt xem: 331
- Một số hình hoạt động trường THPT Nguyễn Khuyến (03/12/09)
- MƯỜI NĂM - MỘT THẬP KỶ TRỒNG NGƯỜI (12/11/09)
- NỘI DUNG CÔNG VIỆC THÁNG 11 NĂM 2009 (07/11/09)
- Quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt độngcủatrườngTHPT Nguyễn Khuyến (05/11/09)
- CẤU TẠO BỘ MÁY QUA CÁC THỜI KỲ (05/11/09)
